Trộm cắp bệnh lý (Kleptomania)

TRỘM CẮP BỆNH LÝ VÀ CÁC YẾU TỐ CÓ KHẢ NĂNG LÀM BỆNH NẶNG HƠN:

TỔNG HỢP Y VĂN VÀ BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP

Nguồn: Farid Ramzi Talih (2011) “Kleptomania and Potential Exacerbating Factors: A Review and Case Report”. Innovations in Clinical Neuroscience, 8 (10), 35-39.

Người dịch: BS. Võ Hùng Chí

Hiệu đính: ThS.BS. Nguyễn Ngọc Quang

Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh

 

TÓM TẮT

Trộm cắp bệnh lý (kleptomania) là một rối loạn kiểm soát xung động (impulse control disorder) gây ra những tổn hại đáng kể và hậu quả nghiêm trọng. Thường thì bệnh được bệnh nhân giữ kín và chỉ tìm kiếm sự giúp đỡ khi phải đối mặt với các hậu quả liên quan đến pháp luật của những hành vi xung động. Về mặt lịch sử, trộm cắp bệnh lý được xem xét dưới góc độ tâm động học (psychodynamic) và điều trị chủ yếu dựa vào tâm lý trị liệu (psychotherapy). Gần đây, những nỗ lực giải thích trộm cắp bệnh lý theo mẫu hình tâm thần kinh học (neuropsychiatric paradigm) làm nổi bật lên những mối liên hệ có thể có giữa rối loạn khí sắc, hành vi nghiện (addictive behavior) và chấn thương não với trộm cắp bệnh lý. Những mối liên quan với trộm cắp bệnh lý này có thể suy luận ra thành chiến lược hóa trị liệu với khả năng giúp ích trong điều trị trộm cắp bệnh lý. Một trường hợp trộm cắp bệnh lý bị làm nặng hơn bởi nhiều yếu tố cũng được xem xét. Những phương thức điều trị được sử dụng trong trường hợp này, bao gồm việc dùng Thang Ám ảnh Cưỡng chế Yale-Brown (Y-BOCS) như một thước đo đáp ứng điều trị, cũng sẽ được thảo luận.

DẪN NHẬP

Trộm cắp bệnh lý đặc trưng bởi những giai đoạn tái diễn của cưỡng chế trộm cắp không chống lại được. Việc trộm cắp thường xảy ra ở dạng trộm cắp ở các cửa hàng (bằng cách giả làm khách mua hàng). Đồ ăn cắp thường có giá trị không đáng kể và không cần thiết đối với người ăn trộm. Những cưỡng chế trộm cắp là bất tương hợp với bản ngã (ego dystonic) và làm bệnh nhân khó chịu.

Thuật ngữ trộm cắp bệnh lý (kleptomania) được đưa ra bởi các nhà tâm thần học người Pháp Esquirol và Marc vào thế kỷ 19 [1]. Lùi về tận năm 1878, những trường hợp trộm cắp bệnh lý ở Mỹ được báo cáo trong y văn [2]. Một số ít bệnh nhân tự nguyện tìm kiếm sự trợ giúp do xấu hổ và sợ những hậu quả pháp luật. DSM-IV-TR xếp trộm cắp bệnh lý vào phân loại rối loạn kiểm soát xung động, chưa được phân loại ở nơi khác (NOS) cùng với xung động đốt nhà (pyromania), chứng nhổ tóc (trichotillomania), rối loạn bùng nổ từng giai đoạn (intermittent explosive disorder) và cờ bạc bệnh lý. Tiêu chuẩn chẩn đoán trộm cắp bệnh lý được liệt kê trong Bảng 1 [3].

Tiêu chuẩn chẩn đoán trộm cắp bệnh lý
  • Không có khả năng chống lại thúc giục để ăn cắp các thứ mà không cần thiết để sử dụng cá nhân hoặc giá trị tiền tệ.
  • Cảm thấy căng thẳng ngày càng tăng trước khi thực hiện hành vi trộm cắp.
  • Có cảm giác nhẹ nhõm, niềm vui hay được giải thoát trong hành vi trộm cắp.
  • Trộm cắp không phải là một cách để trả thù hay để thể hiện sự tức giận, và không được thực hiện trong khi ảo giác hoặc ảo tưởng.
  • Việc ăn cắp không liên quan đến cơn hưng cảm của rối loạn lưỡng cực hoặc rối loạn sức khỏe tâm thần khác, chẳng hạn như rối loạn nhân cách chống đối xã hội.

TỔNG QUAN Y VĂN

Tỷ lệ hiện mắc của trộm cắp bệnh lý trong dân số chung ước tính khoảng 0.6%. Trong các trường hợp bị bắt giữ do trộm cắp tại cửa hàng, tỷ lệ trộm cắp bệnh lý là 3.8 đến 24%. Tỷ lệ Nữ/Nam ước tính là 3/1. Bệnh thường khởi phát ở tuổi dậy thì và tuổi trung bình bắt đầu điều trị là 35 tuổi ở nữ và 50 tuổi ở nam [1,4,5].

Trộm cắp bệnh lý hiếm khi làm (người bệnh) tự nguyện chú ý về mặt y khoa. Bệnh nhân thường đến điều trị theo yêu cầu của pháp luật do lặp đi lặp lại việc trộm cắp trong các cửa hàng. Nam giới thường bị đi tù hơn là chuyển vào điều trị [4].

Một nghiên cứu trên 20 bệnh nhân trộm cắp bệnh lý cho thấy mối liên quan mạnh với trầm cảm chủ yếu, và mức độ yếu hơn đối với lo âu và rối loạn ăn uống. Tất cả các bệnh nhân trong nghiên cứu đều có chẩn đoán trầm cảm suốt đời, 16 bệnh nhân có chẩn đoán rối loạn lo âu suốt đời và 12 người có chẩn đoán rối loạn ăn uống suốt đời [6].

Trộm cắp bệnh lý và các rối loạn kiểm soát xung động khác dường như có tỷ lệ hiện mắc nhiều hơn trên những người có rối loạn tâm thần. Một nghiên cứu trên 204 bệnh nhân tâm thần nhập vào điều trị nội trú, 31% bệnh nhân được xác định có một rối loạn kiểm soát xung động gần đây và 7.8% bệnh nhân có trộm cắp bệnh lý [7]. Một báo cáo xác định 11 bệnh nhân có trộm cắp bệnh lý được so sánh trong nhóm bệnh nhân nghiện rượu và nhóm bệnh nhân tâm thần không có loạn thần. Những bệnh nhân có trộm cắp bệnh lý có mức độ xung động cao hơn có ý nghĩa thống kê trong cả hai nhóm so sánh. Bệnh nhân với trộm cắp bệnh lý cũng được nhận thấy có tỷ lệ cao việc lạm dụng chất và rối loạn khí sắc [8].

Sinh lý bệnh học của trộm cắp bệnh lý chưa được biết rõ. Các giả thuyết phân tâm học liên hệ việc trộm cắp không thể cưỡng lại được với sang chấn thời thơ ấu và sự bỏ rơi hay ngược đãi của bố mẹ, và trộm cắp có thể là sự biểu tượng hóa việc chiếm hữu lại những gì đã mất lúc nhỏ [1,4]. Trộm cắp bệnh lý cũng có liên hệ với những vấn đề tâm lý tính dục (psychosexual) như ức chế hay kìm nén tình dục [1,4]. Các yếu tố về tâm thần kinh cũng cho thấy vai trò trong trộm cắp bệnh lý. Rối loạn có mối liên quan mạnh với rối loạn khí sắc và rối loạn lo âu [6,9]. Những báo cáo về đáp ứng của trộm cắp bệnh lý với thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRIs) đưa đến giả thuyết nó có chung sinh lý bệnh học với rối loạn khí sắc và lo âu [9,10].

Trộm cắp bệnh lý cũng có thể được xem như một dạng hành vi nghiện và cho thấy có liên quan với những rối loạn sử dụng chất khác (như rượu và nicotine) [8]. Naltrexone, một chất đối vận opioids dùng để điều trị các hành vi nghiện, cho thấy làm giảm các triệu chứng của trộm cắp bệnh lý [11 – 13]. Một nghiên cứu mù đôi, kiểm soát giả dược trên 25 bệnh nhân được dùng Naltrexone cho thấy cải thiện có ý nghĩa trộm cắp bệnh lý [14]. Topiramate, một thuốc chống động kinh, cho thấy hiệu quả trong các rối loạn kiểm soát xung động, và gần đây biểu hiện hiệu quả trong điều trị chứng ăn vô độ (binge eating) [15]. Một lần nữa, điều này được suy luận cho trộm cắp bệnh lý với những kết quả đáng khích lệ từ một chuỗi những trường hợp nhỏ [16,17]. Thêm vào đó, có những báo cáo các trường hợp trộm cắp bệnh lý đáp ứng với Lithium, Valproate, Trazodone và liệu pháp sốc điện [1,4,5,9].

Các rối loạn kiểm soát xung động có thể xuất hiện như một di chứng tâm thần kinh của sang chấn vùng đầu và chấn thương não gây sang chấn [18]. Đợt trộm cắp bệnh lý mới khởi phát được báo cáo trong hai trường hợp sau sang chấn vùng đầu [19]. Các rối loạn của não bộ như Động kinh [17] hay Sa sút trí tuệ [1] thùy trán thái dương được báo cáo gây ra trộm cắp bệnh lý. Trộm cắp bệnh lý cũng được báo cáo như một nghịch lý tác dụng phụ của SSRIs trên 3 bệnh nhân [20].

Nhiều kỹ thuật tâm lý trị liệu đơn lẻ và kết hợp với thuốc hướng thần được báo cáo làm cải thiện việc trộm cắp không cưỡng lại được [1,4,9]. Giải nhạy cảm hóa (desensitization) có hiệu quả trong một nghiên cứu nhỏ 3 bệnh nhân có rối loạn kiểm soát xung động: 2 người trộm cắp tại các cửa hàng và một người ăn vô độ [21]. Một nghiên cứu 28 bệnh nhân với tình trạng mua sắm không cưỡng lại được (compulsive buying – một tình trạng liên quan mật thiết với các rối loạn kiểm soát xung động), liệu pháp nhận thức hành vi được cho là có hiệu quả trong việc làm giảm sự cưỡng chế mua sắm.

BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP

Biểu hiện. Một phụ nữ 54 tuổi gốc Caucasia đến phòng khám tâm thần của tác giả bài báo bắt đầu điều trị do các vấn đề về tập trung và chú ý. Tiền căn gồm có rối loạn lipid máu, rối loạn trầm cảm chủ yếu, rối loạn tăng động giảm chú ý được chẩn đoán lúc nhỏ, và rối loạn stress sau sang chấn do tai nạn xe máy. Tai nạn xe máy xảy ra 5 năm trước và nghiêm trọng; chồng bệnh nhân và một người đi cùng khác tử vong, và bệnh nhân là người lái xe, bị tàn tật do những chấn thương thực thể kéo dài.

Bệnh nhân nhập viện một lần năm 20 tuổi do trầm cảm. Tiền căn dùng chất xác định có uống rượu, hiện tại đã giảm. Bệnh nhân cho biết tuổi thơ của mình có dấu ấn bởi cuộc sống gia đình xáo trộn và bạo lực do cha mẹ bất hòa và nghiện rượu. Tiền căn gia đình có cha nghiện rượu. Bệnh nhân học hết phổ thông và làm việc buôn bán nhỏ cho đến khi tàn tật do tai nạn xe máy. Các thuốc đang dùng gần đây là Pravastatin 40mg và Venlafaxine 150mg.

Diễn tiến bệnh và điều trị. Khi bắt đầu đến khám, bệnh nhân có các vấn đề về chú ý và tập trung. Bà ta cho biết đã cố gắng đến các lớp học đại học nhưng gặp khó khăn để duy trì sự tập trung và chú ý trong lớp. Bệnh nhân nói khí sắc của mình bình thường và đã bỏ rượu. Bệnh sử và lâm sàng không ghi nhận loạn thần, hưng cảm hay rối loạn nhân cách. Những triệu chứng của bệnh nhân phù hợp với tình rối loạn tăng động giảm chú ý, và điều trị khởi đầu với Methylphenidate 10mg mỗi ngày. Methyphenidate được lựa chọn vì bệnh nhân báo cáo đã được kê thuốc này trước đó và có đáp ứng tốt. Theo dõi 4 tuần sau đó, bệnh nhân cho biết có cải thiện sự chú ý và tập trung và không có bất kì tác dụng phụ nghiêm trọng nào của thuốc.

Bốn tuần quản lý điều trị bằng thuốc tiếp sau đó, bệnh nhân đột ngột báo cáo tiền căn có các hành vi phù hợp với trộm cắp bệnh lý từ tuổi dậy thì. Bệnh nhân cho biết độ nặng và tần suất của các hành vi tăng lên từ hơn 5 năm trước, nhưng bà ta chưa bao giờ bị bắt vì trộm cắp. Bệnh nhân khai rằng các hành vi trộm cắp bắt đầu lúc 15 tuổi và khởi đầu bằng việc ăn trộm những thứ không cần thiết từ một cửa hàng lớn cứ cách 3 đến 4 tuần. Bà ta cho biết sự hồi hộp và căng thẳng tăng lên khi nghĩ về việc trộm cắp; rốt cuộc, bệnh nhân đi ăn trộm và cảm thấy được giải thoát ngay lập tức, nhanh chóng sau đó cảm giác tội lỗi và xấu hổ. Sau đó, bệnh nhân vứt bỏ đồ ăn cắp vì sợ bị phát hiện. Cuối tuổi dậy thì, bệnh nhân khai rằng mình bắt đầu uống rượu nhiều và khi bắt đầu trưởng thành phát triển thành nghiện rượu. Bệnh nhân cho biết mình không ăn trộm khi say rượu.

Bệnh nhân nhập viện do đa chấn thương sau tai nạn xe máy, trong khi chồng mình tử vong. Bà cho biết các xét nghiệm hình ảnh não bộ tại thời điểm đó bình thường. Bệnh nhân khai sau khi xuất viện đã ngưng rượu và duy trì được 5 năm nay. Bệnh nhân cũng báo cáo, từ khi bị tai nạn, các triệu chứng của trộm cắp bệnh lý tệ hơn với nhiều lần trộm cắp trong tuần và thỉnh thoảng là hàng ngày.

Được sự đồng ý của bệnh nhân, nhóm bắt đầu điều trị cho bà các triệu chứng trộm cắp bệnh lý. Thang Y-BOCS [22] được áp dụng cho bệnh nhân. Bộ câu hỏi Y-BOCS gồm 10 câu dựa trên thang Likert [22,24], và độ nặng được đánh giá dưới lâm sàng có điểm từ 0 đến 7; nhẹ từ 8 đến 15; vừa từ 16 đến 23; nặng từ 24 đến 31; và rất nặng từ 32 đến 40. Điểm số ban đầu của bệnh nhân là 33.

Điều trị khởi đầu gồm có tăng Venlafaxine, một thuốc ức chế tái hấp thu Norepinephrine và Serotonin, lên 225mg mỗi ngày và ngưng Methylphenidate. Trong 3 tuần theo dõi sau đó, các triệu chứng không thay đổi. Một điều trị thử bằng Naltrexone 50mg/ngày và liệu pháp nhận thức hành vi (CBT – Cognitive Behavior Therapy) được bắt đầu. Bệnh nhân ngưng Naltrexone sau 2 tuần do không dung nạp (cảm thấy loạng choạng, buồn ngủ và nhận thức chậm chạp). Tuy nhiên, bệnh nhân nhận thấy có giảm triệu chứng trộm cắp bệnh lý mà bà ta cảm giác có liên quan với các kỹ thuật tâm lý trị liệu. Điểm Y-BOCS tại thời điểm theo dõi nằm trong phạm vị mức độ vừa, ở 20 điểm. Liệu pháp CBT được tiếp tục và trị liệu bằng Topiramate khởi đầu. Topiramate 100mg khi đi ngủ được đề nghị cho bệnh nhân, và bệnh nhân được hướng dẫn chuẩn độ liều khuyến cáo 100mg bằng cách tăng liều 25mg/tuần. Nhóm điều trị quyết định đánh giá đáp ứng của bệnh nhân với Topiramate trong lần theo dõi kế tiếp để xác định liều Topiramate nên tăng lên hay duy trì ở 100mg. Trong lần đến theo dõi 4 tuần sau đó, bệnh nhân báo cáo dung nạp tốt với Topiramate cùng với sự cải thiện đáng kể các triệu chứng và không ăn trộm trong suốt 4 tuần. Topiramate được duy trì ở liều 100mg, và trong lần đến theo dõi 6 tuần sau đó, bệnh nhân cho biết tiếp tục kiềm chế được việc đi ăn trộm. Điểm Y-BOCS giảm xuống mức độ nhẹ là 12 điểm. Venlafaxine được duy trì trong suốt quá trì điều trị các triệu chứng trầm cảm.

Những can thiệp tâm lý trị liệu bao gồm CBT và liệu pháp định hình nội thị (insight-oriented therapy) được thực hiện trên bệnh nhân mỗi lần đến khám. Bệnh nhân được yêu cầu vẽ đồ thị những hành vi cưỡng chế trong một cuốn nhật ký. Bệnh nhân cũng được thực hiện giải nhạy cảm hóa bằng cách tưởng tượng ra những tình huống mình có thể ăn trộm và dùng các kỹ thuật thư giãn nhằm làm giảm căng thẳng mà bà ta trải nghiệm trong những hoàn cảnh này. Điều này cũng được sử dụng – bệnh nhân được hướng dẫn tưởng tượng những hậu quả tiêu cực của việc ăn trộm ở các cửa hàng (như bị xấu hổ, những rắc rối liên quan luật pháp) và một vài cảm xúc tiêu cực do hành vi trộm cắp không cưỡng lại được này. Kỹ thuật hành vi khác là tránh đi shopping một mình hay đi mua sắm ở những chuỗi cửa hàng bán lẻ lớn. Giáo dục tâm lý được sử dụng để giúp bệnh nhân hiểu hơn về bệnh trong bối cảnh trầm cảm, lo âu, sang chấn trước đây và các hành vi nghiện. Bệnh nhân được theo dõi bởi nhóm điều trị trong khoảng 12 tháng, không có tình trạng trộm cắp ở cửa hàng nào được báo cáo cho đến ngày cuối cùng.

BÀN LUẬN

Nhóm điều trị trong trường hợp báo cáo được mô tả trên đây dùng thang Y-BOCS [22] để đánh giá các triệu chứng của trộm cắp bệnh lý ở bệnh nhân. Y-BOCS là bộ câu hỏi có giá trị trong đánh giá độ nặng các triệu chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế và được dùng trong nghiên cứu bệnh nhân mua sắm không cưỡng lại được để theo dõi những thay đổi của các cưỡng chế [23].

Y-BOCS không phải là một bộ câu hỏi có giá trị cho trộm cắp bệnh lý và không được chỉ định dùng cho trộm cắp bệnh lý. Tuy nhiên, để cố gắng đánh giá khách quan cải thiện trên bệnh nhân, nhóm quyết định sử dụng Y-BOCS như một chỉ báo đại diện cho cường độ các cưỡng chế liên quan với các triệu chứng trộm cắp bệnh lý. Bệnh nhân được hướng dẫn trả lời bộ câu hỏi trong những giai đoạn chỉ có các triệu chứng trộm cắp bệnh lý. Y-BOCS được tiến hành 3 lần trong khoảng gần 8 tuần.

Báo cáo này minh họa những vấn đề tâm thần kinh đa dạng có thể đi kèm và làm phức tạp thêm trộm cắp bệnh lý. Bệnh nhân của chúng tôi có tiền căn nghiện (rượu), sang chấn tâm lý thời thơ ấu, trầm cảm và sang chấn vùng đầu. Theo kiến thức của chúng tôi, đây là báo cáo đầu tiên mô tả tình trạng nặng thêm của một trộm cắp bệnh lý đã có từ trước. Các triệu chứng nặng hơn được khai bởi bệnh nhân gồm có những cưỡng chế đi ăn trộm mạnh hơn và tần suất nhiều hơn. Điều này được phản ánh bởi sự gia tăng việc trộm cắp hầu như hằng ngày trong khi trước đây tần suất là mỗi 3 đến 4 tuần. Cảm giác tội lỗi, xấu hổ, và vô dụng tăng cao, và làm tệ hơn tình trạng trầm cảm.

Trộm cắp bệnh lý biểu hiện sau sang chấn vùng đầu đã từng được báo cáo trong y văn [19]. Chúng tôi không thể lấy được các kết quả hình ảnh học bộ não được thực hiện trong thời gian bệnh nhân tai nạn xe máy dù đã cố gắng nhiều. Điều không may này làm ngăn cản bất kì liên hệ nguyên nhân nào giữa sang chấn vùng đầu và sự nặng thêm của trộm cắp bệnh lý trong trường hợp nghiên cứu. Trong khi không thể loại trừ hoàn toàn vai trò sang chấn vùng đầu góp phần vào việc tệ hơn trộm cắp bệnh lý của bệnh nhân, gần như sự nặng lên của trộm cắp bệnh lý của bà ta sau tai nạn xe máy là do nhiều yếu tố.

Một yếu tố quan trọng nên được xem xét trong trường hợp này là sang chấn và trầm cảm gây ra bởi cái chết của chồng bệnh nhân trong tai nạn xe máy. Một điều khả thi là duy trì và tăng liều Venlafaxine trên bệnh nhân có thể làm giảm những hậu quả trầm trọng của trầm cảm lên trộm cắp bệnh lý.

Một yếu tố nữa có khả năng làm nặng thêm trộm cắp bệnh lý trên bệnh nhân là việc cai rượu sau tai nạn xe máy, có thể đưa đến hậu quả mất tác dụng chống lo âu của rượu và góp phần làm tăng các cưỡng chế đi ăn trộm.

Cùng với tâm lý liệu pháp và thuốc, những phương pháp theo dõi được cho là giúp ích trong kiểm soát các triệu chứng: theo dõi chặt, vẽ biểu đồ hành vi trong nhật ký, và dùng Y-BOCS trong những lần đến theo dõi. Những phương pháp này giúp bệnh nhân cũng cố tích cực và có động lực tiếp tục điều trị.

Bệnh nhân trong báo cáo này có lợi ích từ việc sử dụng thuốc được tìm thấy trong y văn như mô tả trước đó về khả năng lợi ích trong trộm cắp bệnh lý. Bệnh nhân không đáp ứng với SNRI và không dung nạp với Naltrexone, nhưng đáp ứng tốt với Topiramate ở liều 100mg/ngày. Một mẫu hình tâm lý – hóa dược trị liệu suy ra được trong trộm cắp bệnh lý có thể gồm các yếu tố sau: bắt đầu bằng SSRI hay SNRI và điều chỉnh liều và thời gian theo khuyến cáo. Nếu không đủ đáp ứng, thử với Naltrexone hay Topiramate nên được xem xét [5]. Liều trung bình có hiệu quả của Naltrexone trong nghiên cứu kiểm soát giả dược cho trộm cắp bệnh lý là 116mg/ngày, với phạm vi từ 50 – 150 mg/ngày [14]. Topiramate có hiệu quả trong các rối loạn kiểm soát xung động (chứng ăn vô độ) và trộm cắp bệnh lý với liều khoảng 200 – 400 mg/ngày [15,16]. Bệnh nhân của chúng tôi đáp ứng với Topiramate ở liều thấp hơn, 100mg/ngày.

Cuối cùng, tất cả những bệnh nhân trộm cắp bệnh lý đều có thể được lợi từ việc điều trị thử các can thiệp tâm lý trị liệu.

KẾT LUẬN

Các bác sĩ nên thực hiện thường quy việc hỏi bệnh nhân của mình về ý định thúc giục đi ăn trộm trong thăm khám chung tâm thần. Những bệnh nhân có tiền căn sang chấn, chấn thương vùng đầu, hay lạm dụng chất cũng nên được tầm soát trộm cắp bệnh lý. Điều thiết yếu trong tiếp cận bệnh nhân trộm cắp bệnh lý là không phán xét và củng cố sự tin tưởng bởi vì bệnh nhân sợ những hậu quả liên quan pháp luật. Tăng nhận thức và tầm soát từ bác sĩ có thể làm tăng số lượng bệnh nhân yêu cầu giúp đỡ. Những người mắc bệnh này có thể hy vọng một cách có căn cứ sự giảm nhẹ và có thể phục hồi các triệu chứng bằng cách phối hợp tâm lý và hóa dược trị liệu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Goldman MJ. Kleptomania: making sense of the nonsensical. Am J Psychiatry. 1991;148:986–996.
  2. Eastman BD. A case of kleptomania. Am J Psychiatry. 1878;35:254–271.
  3. American Psychiatric Association Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fourth edition, Text Revision. Washington, DC: American Psychiatric Association; 2000.
  4. Sadock BJ, Kaplan HI, Sadock VA. Synopsis of Psychiatry, Tenth Edition. Philadelphia, PA: Lippincott Williams & Wilkins; 2007.
  5. Aboujaoude E, Gamel N, Koran L. Overview of kleptomania and phenomenological description of 40 patients. J Clin Psychiatry. 2004;6:224–247.
  6. McElroy SL, Pope HG, Jr, Hudson JI, et al. Kleptomania: a report of 20 cases. Am J Psychiatry.1991;148:652–657.
  7. Grant JE, Levine L, Kim D, Potenza MN. Impulse control disorders in adult psychiatric inpatients. Am J Psychiatry. 2005;162:2184–2188.
  8. Bayle FJ, Caci H, Millet B, Richa S, Olie J. Psychopathology and comorbidity of psychiatric disorders in patients with kleptomania. Am J Psychiatry. 2003;160:1509–1513.
  9. Grant JE. Understanding and treating kleptomania: new models and new treatments. Isr J Psychiatry Relat Sci. 2006;43:81–87.
  10. Koran LM, Aboujaoude EN, Gamel NN. Escitalopram treatment of kleptomania: an open label trial followed by double blind discontinuation. J Clin Psychiatry. 2007;68:422–427.
  11. Grant JE, Kim SW. An open-label study of naltrexone in the treatment of kleptomania. J Clin Psychiatry.2002;63:349–356.
  12. Grant JE, Kim SW. A case of kleptomania and compulsive sexual behavior treated with naltrexone. Ann Clin Psychiatry. 2001;13:229–231.
  13. Grant JE, Kim SW. Adolescent kleptomania treated with naltrexone: a case report. Eur Child Adolesc Psychiatry. 2002;11:92–95.
  14. Grant JE, Kim SW, Odlaug BL. A double-blind, placebo-controlled study of the opiate antagonist, naltrexone in the treatment of kleptomania. Biol Psychiatry. 2009;65:600–606.
  15. Leombruni P, Lavagino L, Fassino S. Treatment of obese patients with binge eating disorder using topiramate: a review. Neuropsychiatr Dis Treat. 2009;5:285–392.
  16. Dannon PN. Topiramate for the treatment of kleptomania: a case series and review of the literature. Clin Neuropharmacol. 2003;26:1–4.
  17. Kaplan Y. Epilepsy and kleptomania. Epilepsy Behav. 2007;11:474–475.
  18. McAllister TW. Neuropsychiatric sequelae of head injuries. Psychiatr Clin North Am. 1992;15:395–413.
  19. Aizer A, Lowengrub K, Dannon PN. Kleptomania after head trauma: two case reports and combination treatment strategies. Clin Neuropharmacol. 2004;27:211–215.
  20. Kindler S, Dannon PN, Iancu I, et al. Emergence of kleptomania during treatment for depression with serotonin selective reutake inhibitors. Clin Neuropharmacol. 1997;20:126–129.
  21. McConaghy N, Blaszczynski A. Imaginal desensitization: a cost effective treatment in two shoplifter and a binge eater resistant to previous therapy. Aust N Z J Psychiatry. 1988;22:78–82.
  22. Kim SW, Dysken MW, Pheley AM, Hoover KM. The Yale-Brown Obsessive-Compulsive Scale: measure of internal consistency. Psychiatry Res. 1994;51:203–211.
  23. Mitchell JE, Burgard M, Faber R, et al. Cognitive behavioral therapy for compulsive buying disorder.Behav Res Ther. 2006;4:1859–1865.
  24. Goodman WK, Price LH. Assessment of severity and change in obsessive compulsive disorder. Psychiatr Clin North Am. 1992;15:861–869.
Updated: 8 Tháng Mười Một, 2016 — 4:07 chiều

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Frontier Theme