Lịch sử pháp y tâm thần – phần 2

THỜI HIỆN ĐẠI

Một nhà bình luận truy nguyên thấy nguồn gốc của pháp y hiện đại vào năm 1507 và bộ luật hình sự được viết bởi Giám mục xứ Bamberg, đưa đến yêu cầu phải đưa vào Bộ luật Carolina (Constituto Carolina) của Hoàng đề Charles V “…cần có bằng chứng của người làm nghề y trong tất cả các tố tụng mà sự chứng thực của họ có thể soi sáng cho quan tòa hay hỗ trợ điều tra như trong các tố tụng gây thương tích, giết người và giả mang thai” (Gerber 1961, tr. 197). Erwin Ackerknecht cho rằng lần đầu tiên tham chiếu ý kiến chuyên gia y học là tại tòa án Paris năm 1511 (Eigen 1985, quyển. 2, tr. 38). Trong bất cứ vụ kiện nào, bắt đầu từ thế kỉ XVI, dường như đánh dấu sự công nhận của các nhà chức trách pháp luật rằng giám định pháp y không những có ích, mà còn không thể thiếu được.

Những đặc điểm của sự chuyển dịch sang giai đoạn hiện đại là sự tiến bộ của các học thuyết y khoa và luật pháp liên quan đến hành vi người bệnh tâm thần, quá trình kiểm định làm thế nào người bệnh tâm thần được xác nhận, và các phương pháp điều trị bệnh tâm thần. Những học thuyết thể dịch và ma quỷ bị bác bỏ (thỉnh thoảng chứ không phải thay thế hoàn toàn), sự kiểm tra trí năng thông thường của người khờ hay người điên được đặt sang một bên, và việc điều trị cho những người này thay đổi từ giám hộ của gia đình sang chăm sóc trong bệnh viện tâm thần và sau đó duy trì với thuốc hướng thần.

Những người làm nghề y dần mở rộng sự khác biệt được đưa ra trong Bộ luật Đặc quyền Hoàng tộc (Praerogativa Regis) giữa người khờ tự nhiên và người bị suy giảm chức năng tâm thần sau sinh. Thomas Willis (1621–1675) đưa ra nguyên tắc phân loại về các rối loạn tâm thần. Một trong những rối loạn có ý nghĩa nhất với luật pháp là chứng sầu uất (melacholia), bởi vì những hoang tưởng theo sau sự sầu uất có thể là tạm thời. Willis phân biệt giữa một loại sầu uất toàn bộ (univeral type) khi nỗi u sầu ảnh hưởng đến tất cả các phương diện của hoạt động tâm thần và một loại sầu uất một phần (particular type) cho phép đánh giá một cá nhân không bị ảnh hưởng ngoại trừ một hoặc hai lĩnh vực (của hoạt động tâm thần) (Jackson 1983, tr. 176).

Matthew Hale, một luật gia người Anh trở thành người đứng đầu Tối cao pháp viện Anh (Lord Chief Justice) và là tác giả cuốn History of the Pleas of the Crown (được xuất bản lần đầu năm 1736 sau khi ông qua đời) có lẽ là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “điên một phần (partial insanity)”, một khái niệm giống với loại sầu uất một phần của Willis. Trái ngược với “điên một phần”, Hale đưa ra (khái niệm) “điên toàn bộ (perfect madness)” hay “mất toàn bộ lí trí (total alienation of the mind)”. Sự phân biệt đặc biệt có ý nghĩa từ khi sự sầu uất là một viện dẫn cơ bản thường thấy của bệnh tâm thần (Jackson 1983, tr. 173).

Hale tin rằng đó là một tình trạng lí trí của cá nhân và không phải là bản chất của các hành động (của người tâm thần), do đó có tầm quan trọng của việc xác định có bệnh tâm thần hay không theo yêu cầu pháp luật là có thể dùng (điều này) để biện hộ cho tội phạm phải (Mora 1976, tr. 1419). Tại điểm này, Hale chỉ đơn thuần lặp lại lí luận của các nhà bình luận luật pháp người Anh Bracton (mất 1268) và Coke (1552 – 1634), cả hai đều cho rằng để thành lập một tội trạng cần có một ý thức phạm tội (mens rea, tiếng Latin), cùng với một hành vi phạm tội (actus reus, tiếng Latin). Coke cho rằng mục đích của sự trừng phạt là không gây ra thương tổn cho những người không có khả năng suy luận hay hiểu biết bởi vì sự trừng phạt này không có tác dụng làm gương cho những người khác (Platt and Diamond 1965, tr. 359) [12].

Trong lịch sử pháp luật Anh – Mỹ có thể tìm thấy nhiều sự kiểm định bệnh tâm thần nhằm xác định có hay không ý thức phạm tội. Sự tiến bộ của các kiểm định này có thể được theo sau bởi nhiều vụ tố tụng tội phạm quan trọng bắt đầu từ thế kỉ XVIII [13]. Một trong những vụ kiện đầu tiên là Vụ án Arnold (Rex v. Arnold, 16 How. St. Tr. 695) (1724) do thẩm phán Robert Tracy chủ trì xét xử. Edward Arnold bị xử vì tội cố ý giết Huân tước Onslow. Vụ tố tụng này được xem như là mẫu mực của việc “kiểm tra bản năng hoang dã” trong đó “ để miễn trách nhiệm phạm tội cho người bệnh tâm thần, bị cáo phải không biết những gì mình đang làm”, “không hơn một đứa trẻ hay một thú vật hoang dã” (Thẩm phán Tracy, trích dẫn trong Hermann 1983); tuy nhiên, rõ ràng là có nhiều cách kiểm tra khác nhau giúp Thẩm phán Tracy đưa ra phán quyết như kiểm tra sự phán đoán luân lí trừu tượng (“phân biệt giữa tốt và xấu”).

Vụ xử Bá tước Ferrers năm 1760 đánh dấu lần đầu tiên ghi chép việc chứng thực tâm thần đối người bệnh để xử tội. Trong cơn giận dữ, Bá tước đã bắn chết người quản gia của mình, Vụ án Ferrers (Rex v. Ferrers, How. St. Tr.886) (1760). Tiến sĩ John Monro, bác sĩ giám định ở Bethlem (thường gọi là Bedlam), chứng thực như là một chuyên gia giám định. Bác sĩ Monro được thẩm tra bị cáo Bá tước Ferrers, người có lời bào chữa phù hợp với luật pháp Anh quốc hiện thời. Bá tước khó chứng minh được tình trạng bệnh tâm thần của mình; tuy có lời biện hộ sắc sảo rằng sự bào chữa của mình không được tin tưởng, ông bị kết tội và thi hành án.

Tiêu chuẩn mất toàn bộ lí trí bị phản bác thành công năm 1800 trong vụ án Hadfield (Rex v. Hadfield (1800) 27 St. Tr. 1281). Hadfield là một người lính gắn với Công tước thành phố York trong những năm cuối thế kỉ XVIII. Trong lúc chiến đấu, ông bị nhiều vết thương nặng ở đầu khiến ông phải giải ngũ và dẫn đến bệnh tâm thần dai dẳng nổi bật bởi các hoang tưởng về ngày tận thế sắp tới và vai trò của mình như một Chúa Cứu thế. Để thực hiện sự cứu rỗi thế giới, Hadfield xem việc ám sát vua George III là mệnh lệnh mà ông phải thi hành và nhờ đó cứu được thế giới bằng sự tử vì đạo của mình. “Hadfield dùng một cây súng lục, và gây ra vết thương khoảng vài inch nhưng không giết được George III” (Walker 1968, tr. 74). Hadfield bị tước vũ khí, bắt được và cuối cùng đem đi xử tội. Không giống Bá tước Ferrers kém may mắn, Hadfield có sự tham vấn và được đại diện bởi luật sư xuất sắc, Thomas Erskine, người đã dành được chiến thắng bằng một tuyên bố trắng án. Erskine đúc kết lời biện hộ cho người bệnh tâm thần trong bối cảnh quá trình bệnh, một sự thay đổi từ việc kiểm định nhận thức hiểu biết hay tri thức luân lý cố hữu trước đây. Không còn việc chỉ dựa vào tình trạng có hay không có lí trí, mà là sự xuất hiện của hoang tưởng hoặc tình trạng rối loạn khả năng suy nghĩ, bồi thẩm đoàn dùng nó để suy xét vấn đề (Quen 1968, tr. 45):

Hoang tưởng, vì vậy, khi không có sự điên cuồng hay giận dữ kém suy xét, là đặc tính chân xác của bệnh tâm thần; và khi không thể xác định được tình trạng một người là sống hay chết trong một tội phạm phải, anh ta, theo ý của tôi, bắt buộc không được trắng án… Tôi phải thuyết phục bạn rằng, không chỉ người tù bất hạnh là một người điên, theo định nghĩa của tôi, mà hành động đang nói đến là kết quả tức thì, không đủ tư cách pháp lý của bệnh tật… giải thoát người điên khỏi trách nhiệm chịu tội trước tòa, trên tất cả, trong trường hợp có hành động hung ác, mối liên quan giữa bệnh và hành động phải được hiển lộ rõ ràng  (Erskine, trích dẫn theo Hunter và Macalpine 1963, tr. 571).

Năm 1812, John Bellingham bị hành hình vì giết Spencer Percevale, Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Tài chính Anh. Mặc dù lời bào chữa bệnh tâm thần được đưa ra, quyết định như trong vụ kiện Hadfield bị lờ đi và việc kiểm tra kiến thức về đúng và sai (của bị cáo) được dùng tới. Năm 1840, Edward Oxford có ý ám sát nữ hoàng Victoria. Lời bào chữa tình trạng tâm thần của ông ta sau đó thành công. Bản án của Bellingham bị phủ nhận hoàn toàn. Người đứng đầu Tối cao pháp viện Anh Denman tái xác nhận (trong bản án Oxford) sự ưu tiên của câu hỏi về yếu tố quyết định hay là khả năng chịu trách nhiệm cho hành động: (do) bệnh tật hay (do) cá nhân (gây ra hành động phạm tội)? Một kiểu mẫu dường như xuất hiện từ các vụ kiện ở thế kỉ XVIII – XIX: những người nào thực hiện hành vi phạm pháp thành công thì thất bại trong việc bào chữa bằng tình trạng bệnh tâm thần của họ; (và ngược lại) những người có ý đồ phạm tội và thất bại, thì lại thành công bằng việc bào chữa hành vi phạm tội nhờ vào tình trạng bệnh tâm thần.

Trường hợp sau đây dứt khoát phá vỡ kiểu mẫu này, nếu có một kiểu mẫu, và thiết lập một nguyên tắc được duy trì cho đến ngày hôm tại bởi phần lớn các khu vực ở Hoa Kỳ, vụ kiện M’Naghten (10 Cl & Fin. 200, 8 Engl. Rep. 718) (1843) . Daniel M’Naghten, cho rằng người mà ông bắn từ phía sau lưng là Thủ tướng Anh Robert Peel, đã ám sát nhầm Edward Drummond, thư kí riêng của Peel. M’Naghten đã trải qua những hoang tưởng phức tạp liên quan đến việc ông cùng với những người khác, bị chính quyền Anh và Vatican khủng bố ngược đãi. Vụ xử án nổi bật bởi số lượng bác sĩ được gọi là chuyên gia giám định (tất cả 9 người), mặc dù có hai người không khám cho M’Naghten. Họ cho rằng không có gì nghi ngờ về bệnh tâm thần của phạm nhân, dù cho M’Naghten có thể nắm được những nguyên tắc lí tính và phân biệt được đúng sai trong suốt cuộc đời mình.

M’Naghten được tuyên bố vô tội vì bệnh tâm thần sau khi vụ kiện khép lại. Có hai bác sĩ mời đến vụ khởi tố, mặc dù thăm khám cho M’Naghten, họ không có bất kì sự kiểm định nào tại phiên tòa. Hai luật sư bào chữa (Winslow and Philips), dù chưa bao giờ gặp M’Naghten và chỉ biết ông nhờ quan sát tại tòa, chứng thực rằng ông bị tâm thần, đồng ý với ý kiến bào chữa tại tòa của đồng nghiệp. Dưới sức nặng của giám định y khoa. Thẩm phán Tindal ngưng phiên xử và chỉ thị hội đồng xét xử trả lại bản án vô tội vì lí do bệnh tâm thần. Quyết định này đặt Nữ hoàng Victoria, chính phủ của bà, và công chúng trong trạng thái lo lắng về bản chất tương đối không xác định của tình trạng tâm thần có thể cho phép một lời bào chữa do bệnh tâm thần thành công.

Sau phiên tòa, người đứng đầu Thượng viện Anh quốc trình lên Quốc hội bộ Luật Anh quốc liên quan đến trách nhiệm của người bệnh tâm thần và đề ra những quy tắc cho quan tòa. Ba tháng sau, mười lăm Thẩm phán của Tối cao pháp viện Anh được triệu tập với mục đích làm cho bộ luật sáng tỏ dễ hiểu. Theo các Thẩm phán này, Thượng viện Anh đã trả lời 5 câu hỏi. Trong đó, một phần câu trả lời họ đưa cho những câu hỏi này tạo ra Luật M’Naghten. Những nguyên tắc này vẫn còn được sử dụng ở nhiều nơi tại Hoa Kỳ. Phần quan trọng nhất của những nguyên tắc này cho sự phát triển xa hơn của pháp y tâm thần được tìm thấy trong câu trả lời cho câu hỏi thứ hai và thứ ba. Những câu hỏi này nhằm hướng tới đạt được khuyến nghị về những chỉ dẫn dành cho bồi thẩm đoàn và những hoàn cảnh nên đưa chỉ dẫn này vào:

Bồi thẩm đoàn phải xét xử trong tất cả các vụ kiện người nào cũng được cho là có tinh thần lành mạnh, và đủ mức độ lành mạnh về tinh thần để chịu trách nhiệm cho tội lỗi mà mình phạm phải, cho đến khi điều ngược lại được chứng minh thỏa đáng; và khi đưa ra lời bào chữa dựa trên lí do bệnh tâm thần, lí do này phải được chứng minh một cách rõ ràng rằng, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bên bị cáo đang trong tình trạng mất lí trí (tinh thần lành mạnh) do bệnh tật đến nỗi không biết được bản chất của hành động mình thực hiện, hoặc nếu biết, anh ta không nhận thức được những gì mình làm là sai (Trial of Daniel M’Naughton, 1843. Trong: Modern State Trials. Duyệt lại: William C. Townsend, 1850, trích dẫn trong Hunter và Macalpine 1963, tr. 921).

Bên cạnh việc thiết lập và hạn chế các điều kiện pháp lý theo đó chuyên gia giám định tâm thần sẽ phải chứng thực (và theo đó họ chứng thực cho đến ngày nay tại nhiều nước nói tiếng Anh), phán quyết trong vụ tố tụng này và câu trả lời cho các câu hỏi tiếp sau đó gợi mở một ảnh hưởng thú vị và bất ngờ. Nếu như vụ kiện M’Naghten có thể được xem như một sự phê chuẩn thiết yếu cho sự xuất hiện của các bác sĩ tại tòa như những chuyên gia tâm thần, sự phê chuẩn này đạt được nhờ một phần không nhỏ bởi công việc của một bác sĩ Hoa Kỳ, Isaac Ray.

Dịch từ “Principles and practice of forensic psychiatry”, Second Edition, Chapter 3: History of forensic psychiatry, p. 14 – 20

Updated: 8 Tháng Mười Một, 2016 — 3:55 chiều

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Frontier Theme