Lịch sử pháp y tâm thần – phần 1

LỊCH SỬ PHÁP Y TÂM THẦN

Việc chính thức công nhận pháp y tâm thần là một chuyên khoa sâu trong y học đặt ra những yêu cầu lớn về mặt kiến giải lịch sử. Sự nhìn nhận pháp y tâm thần đơn giản như một đề tài phụ của phần lịch sử lớn hơn của tâm thần học là không đầy đủ. Cách tiếp cận này hầu hết dựa trên lịch sử chuẩn định của tâm thần học (Alexander và Selesnick 1966; Zilboorg 1967; Ackerknecht 1968), với cách mô tả tâm thần học được định trước bởi những cột mốc khoa học thường thấy cũng như (tâm thần học là) nỗ lực chống lại sự bảo thủ của những mê tín và thiếu hiểu biết cực đoan khó thay đổi (Mora 1970 và Mora và Brand 1970). Những chuyên khoa sâu trong y học về cơ bản tiến bộ cùng với sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên, tuy nhiên, tâm thần học thực chất không đi theo con đường này; do đó, “… sự phát triển của tâm thần học khó mô tả hơn” (Marx 1970, tr. 595).

Lịch sử pháp y tâm thần phải được đặc biệt chú ý và mô tả một cách trực tiếp xuyên suốt sự hiện diện của quá trình bàn luận và thực hành tâm thần học, cũng như có mối tương giao với các nhu cầu pháp lý trong bối cảnh lớn hơn của sự tiến bộ văn minh. Chương này đi theo lịch sử của sự tương giao đó suốt các giai đoạn cổ đại, trung đại và hiện đại sau khi lần đầu tiên xem xét bản chất của các vấn đề trí tuệ phức tạp bao gồm việc kiến tạo một lịch sử.

Mô tả một ranh giới quanh hoạt động của các nhà pháp y tâm thần là vấn đề khó giải quyết, kể từ khi tất cả hoạt động tâm thần đều có thể chứa một thành tố của “tính pháp lý” [1]. Một thách thức thậm chí còn lớn hơn là phác họa lại những hoạt động trước đó mà hiện tại được thực hiện một cách có hệ thống bởi các nhà pháp y tâm thần. Tâm thần học không tồn tại như  một chuyên khoa sâu trong y học cho đến cuối thế kỷ 18 hay đầu thế kỷ 19, và công việc phổ biến của bác sĩ/chuyên gia trong các tòa án của luật pháp phương Tây không có nguồn gốc lâu đời hơn (cuối thế kỷ 18/đầu thế kỷ 19). Foucault (1972, tr. 179) cho rằng trước đây tâm thần học có thể không được xem là một chuyên khoa, mà là một “sự thực hành mơ hồ” chứa đựng kiến giải về nhiều đau khổ thể xác và tinh thần được biết đến ở thời điểm đó.

Trong các thuật ngữ xã hội học, nhà pháp y tâm thần là một chuyên gia y học được mời tham gia thiết lập những quyết định pháp lý (đặc biệt những quyết định này ảnh hưởng đến tình trạng của các cá nhân), thêm vào đó bằng cấp chuyên môn và khoa học của họ làm cho các quá trình đưa ra quyết định trở nên có hiệu lực. Nhiệm vụ của nhà sử học xã hội là xây dựng sự giải thích cho hình thức hoạt động xã hội này (pháp y tâm thần) và những mối liên quan với nó; tuy nhiên, có một vài trở ngại kỹ thuật cản trở sự tái hiện hoàn hảo quá khứ (Mead 1980). Liên tục, không liên tục, xuất hiện, biến mất và tái xuất hiện, duy trì, chuyển dịch hay từ bỏ vấn đề (Foucault 1972) đặc tính hóa sự “thực hành mơ hồ” của pháp y tầm thần và những hình thức trước đó của nó trong hoạt động xã hội.

Hai mối quan tâm được ngầm đặt vào lịch sử này (pháp y tâm thần). Thứ nhất là những vấn đề cổ xưa và kéo dài của động lực và ý hướng con người. Tất cả hệ thống pháp luật đều phải giải quyết vấn đề của thẩm quyền xét xử và trách nhiệm giải trình. Thứ hai, để giải đáp nhiều câu hỏi cần phải có những người phán quyết. Trong các tòa án pháp luật, thẩm phán và bồi thẩm đoàn là những người đưa ra quyết định cuối cùng: thẩm phán phân xử những câu hỏi về luật; bồi thẩm đoàn, trong hệ thống pháp luật Anh – Mỹ, phân xử những câu hỏi về sự kiện thực tế. Các vấn đề của bệnh tâm thần hay mất năng lực được thường được mô tả như là câu hỏi thực tế đối với những người phán xét, được trợ giúp bởi nhóm các chuyên gia có tính chuyên nghiệp cao, đặc biệt trong bối cảnh hiện đại. Lịch sử pháp y tâm thần, về lý tưởng, là lịch sử của sự tương giao giữa các vấn đề luật pháp và xã hội trong quá trình chứng minh năng lực và quy kết trách nhiệm với sự chuyên môn hóa của y học và chuyên biệt hóa của tâm thần học [2].


 

THỜI CỔ ĐẠI

Imhotep (3000 năm trước Công nguyên), tể tướng và tổng công trình sư trong thời kì Pharaoh Zoster Ai Cập, là “nhân vật quan trọng đầu tiên kết hợp khoa học pháp luật và y khoa; ông có thể được xem là chuyên gia y học – pháp lý đầu tiên” (Smith 1951, tr. 600). Ở Imhotep, chúng ta nhận thấy các vai trò không tách rời của một thầy tư tế/bác sĩ/chính khách/kiến trúc sư, mặc dù nên cẩn trọng khi đặt quá nhiều chức danh nhằm khắc họa người có thể hoàn toàn là một huyền thoại.

Theo một số tác giả, đế quốc Babylon cổ đại cung cấp cho chúng ta bằng chứng về việc xử án giết người đầu tiên và người chuyên làm chứng đầu tiên, trong trường hợp này là một bà đỡ (Smith 1951, tr. 600; Ackerknecht 1976, tr. 1225). Một trong những ví dụ của sự xem xét ý định (phạm tội) trong khi phán xét trách nhiệm cá nhân được tìm thấy trong các bản kinh của người Do Thái cổ đại [3]. Sách Deuteronomy (Đệ nhị Luật, quyển sách thứ hai trong Cựu ước) 19:1 – 13 trình bày lập luận cho sự thiết lập “những thành phố ẩn náu” trong đó một số người đã giết người hoàn toàn là do tai nạn được che chở khỏi sự trả thù bởi những trừng phạt tương ứng. Luật Do Thái cổ đại hiểu rằng tính chất pháp lý của một hành động được xác định bằng ý định của người thực hiện hành động. Vì vậy, khái niệm về ý định tội ác (ý thức phạm tội) được đưa vào luật pháp phương Tây (Platt and Diamond 1966). Tầm quan trọng của ý định trong việc phán xét hành động con người có bằng chứng trong hệ thống luật Babylon như được trình bày trong Bộ luật Hammurabi, mặc dù hệ thống luật này vô cùng hà khắc, hầu như luôn đưa ra án tử hình cho những người phạm luật. Một cách tiếp cận có thể được tìm thấy trong nhiều luật cổ xưa, nơi mà, không cần thiết phải đưa ra ý định của người thực hiện hành động. Kelsen (1946, tr.65) gọi đó là “trách nhiệm (nghĩa vụ) tuyệt đối”.

Người Hi Lạp cổ đại đã để lại giải pháp cho nhiều xung đột, cũng được gọi là “tư luật (private law)”, có nghĩa rằng các bên tranh chấp sẽ được đưa ra quyết định của chính họ. Có rất ít nhu cầu hay cơ hội cho việc giải thích của chuyên gia hay quan điểm pháp lý ngoại trừ một vài trường hợp riêng biệt như khi một bác sĩ chứng minh một khiếm khuyết trên người nô lệ được bán đã có từ trước. Khi những câu hỏi về năng lực tâm thần nảy sinh, không có bằng chứng các bác sĩ có vai trò như những chuyên gia theo bất kì ý nghĩa hiện đại nào (Rosen 1968, tr. 136; Amundsen and Ferngren 1977).

Triết gia Hi Lạp Plato cho rằng linh hồn con người được chia ra thành phần lí tính và phi lí tính, phần lí tính tách con người ra khỏi sự thấp kém và bản chất thú vật (Zilboorg 1967, tr. 52). Vì bản tính con người là tự do lựa chọn, nhiều hình phạt nặng nên được áp dụng cho những ai “phạm tội gây hại với một số cấp độ xét xử” (Platt và Diamond 1966, tr. 1229). Môn đệ lớn của Plato, Aristotle, nhận thức được tầm quan trọng của tri thức trong trong việc quy kết trách nhiệm: “Một người chịu trách nhiệm về đạo đức khi với sự hiểu biết về những hoàn cảnh và không có sự cưỡng chế bên ngoài, anh ta cố tình chọn lựa một hành vi phạm tội cụ thể” (trích dẫn trong Platt and Diamond 1966, tr. 1229) .

Những cách tiếp cận ban đầu có tác động đáng kể đến tất cả những thảo luận sau này về vấn đề trách nhiệm. Chúng báo trước sự căng thẳng giữa: những người bào chữa rằng người điên không phải chịu trách nhiệm cho những hành động phạm tội chỉ khi nào có bằng chứng của việc mất toàn bộ lí trí (có thể so sánh với hành vi của một “bản năng hoang dã”); những người cho phép miễn (chịu trách nhiệm) chỉ khi nào biểu hiện suy giảm tâm thần là sự suy giảm nhận thức; và số khác nghi vấn rằng có tồn tại một “xung động không thể cưỡng lại được” hay hành động (phạm tội) là hậu quả của một bệnh lý hay một sự suy giảm.

Nền y học phương Tây khởi đầu bằng sự kế thừa từ Hi Lạp, và nhà quan sát và bác sĩ vĩ đại người Hi Lạp, Hippocrates, được xem là cha đẻ của truyền thống y học này. Một trong những đóng góp lớn nhất của ông là sự xác quyết rằng động kinh không phải được gây nên bởi các lực lượng siêu nhiên. Bệnh tật có nguồn gốc tự nhiên và có thể được hiểu biết và chữa trị như những biểu hiện của trật tự tự nhiên (Ackerknecht 1968, tr. 10). Nhờ vào một “trực giác lâm sàng”, Hippocrates cho rằng nhiều bệnh tật về thể chất làm thuyên giảm bớt “chứng loạn trí (madness)” hay “chứng cuồng (mania)”, đưa đến khoảng 2300 năm điều trị bằng thuốc kháng sốt rét đối với bệnh tâm thần do giang mai (Zilboorg 1967, tr. 48).

Vương triều Ptolemies và Roman Egypt hấp dẫn bởi sự xuất hiện của một demosios iatros, hay bác sĩ công (public physician). Mặc dù có những tri thức nhất định được áp dụng bởi các tòa án Ptolemies, như ý kiến của các chuyên gia trắc địa, các bác sĩ không được mời đến tòa án để đưa ra đánh giá chuyên môn (Amundsen và Ferngren 1979, tr. 340).

Trong số các hệ thống luật cổ đại, hiển nhiên luật La Mã là toàn diện và phức tạp nhất. Cũng giống như tiền thân Hi Lạp của nó, các quá trình pháp luật La Mã không sử dụng các bác sĩ như những chuyên gia (Sesto 1956, tr. 33), mặc dù bà đỡ, địa chính viên và chuyên gia chữ viết tay được sử dụng trong vai trò pháp luật (Amundsen và Ferngren 1979, tr. 48). Quan tòa có rất nhiều khả năng trong việc thu thập và xem xét bằng chứng và nhận sự tham vấn từ tham vấn viên (adsessor, tiếng Latin), là những người được học về luật pháp; tuy nhiên, không có bằng chứng nào cho thấy rằng cả thành phần thông thường và ngoại lệ của các thành viên tham vấn có kiến thức có thể giúp giải quyết những câu hỏi của sự kiện thực tế (Amundsen và Ferngren 1979, tr. 46) [4].

Luật pháp La Mã cũng ghi nhận rằng những ai thực hiện hành vi phạm tội mà không có ý định cố tình phạm tội nên được miễn trách nhiệm vì các hành vi của mình. Luật 12 bảng (Twelve Tables), một trong những bộ luật La Mã sớm nhất tạo ra điều khoản cho hệ thống giám hộ của người bệnh tâm thần, thường đặt các nhân và tài sản của họ dưới sự chăm sóc của họ hàng bên nội. Luật Bồi thường (Lex Aquila) ở thế kỉ thứ ba quy định: người không phải vô tình hay cô ý, mà do tai nạn, gây ra thiệt hại, không bị trừng phạt” (Platt và Diamond 1966, tr. 1230). Trong Luật Cornelius (Lex Cornelia),trẻ em, vì suy nghĩ thiếu chín chắn, và người bệnh tâm thần, vì vốn bất hạnh, được miễn trừng phạt (Platt and Diamond 1966, tr. 1230).

Đối với người bệnh tâm thần, luật pháp La Mã chủ yếu giải quyết những câu hỏi của người giám hộ mà không bị yêu sách bởi hầu hết các vấn đề chủ yếu liên quan đến việc xét xử người phạm tội trong các nguồn tài liệu hiện đại. Câu hỏi về ý định (phạm tội), trong khi quan trọng trong tài liệu cổ, lại bị lu mờ bởi các vấn đề về giám thủ (custody), bảo vệ (protect) và quy chế pháp định (status). Sự khác biệt trong cách nhấn mạnh này bắt nguồn từ cách tiếp cận khi người La Mã hướng tới hành vi (chứ không phải là ý định phạm tội) của những người được cho là không bình thường hay mất trí. Thỉnh thoảng sự phá hoại do hành vi không có lí trí của người bệnh tâm thần có thể được tha thứ bằng cách đền bù cho các nạn nhân (được thực hiện bởi người giám hộ). Bồi thường tiền có thể thực hiện như một biện pháp khắc phục, thậm chí trong trường hợp giết người, nếu những người thân của nạn nhân (hoặc chính bản thân nạn nhân, khi là nô lệ) đồng ý sự bồi thường thay cho những hình thức trừng phạt thân xác. Luật La Mã không ngoại lệ trên phương diện này, có phần giống với hệ thống luật Anglo – Saxon và Đan Mạch – Anh quốc (Walker 1968).

Y học La Mã đạt tới sự cực thịnh của nó tại cá nhân Galen (130 – 200), người mà cũng giống như Hippocrates là một nhà khoa học thực nghiệm, phản bác lại các nhà tiên tri, ủng hộ các nhà giải phẫu học (Zilboorg 1967 [1941], tr. 87). Galen cho rằng não bộ là trung tâm của tư duy, nhưng đặt hai linh hồn phi  lí tính, một ở tim và một ở gan. Không may, Galen trở thành một thẩm quyền y học thiêng liêng ngay cả khi hầu hết những phẫu tích của ông thực hiện bị giới hạn trên lợn và chó. Nhiều bí ẩn y học (như tuần hoàn máu) vẫn không có lời giải đáp cho tới hơn 1300 năm học thuyết của Galen mới bị đánh đổ.


 

THỜI TRUNG ĐẠI

Thời Trung đại (khoảng từ thế kỉ thứ VI đến thế kỉ XVI) là giai đoạn của sự hạn định khoa học trong khi những truyền thống La Mã và Thần học Thiên Chúa giáo thống trị khắp châu Âu. Năm 528, Hoàng đế Justinian ra lệnh xem lại và soạn thành bộ luật lớn các điều luật La Mã. Bộ luật Justinian (Corpus Iuris Civilis) [5] (phân biệt với luật của giáo hội và nhà thờ) đặt ra những điều khoản dành cho người bệnh tâm thần. Được ví như “không tồn tại, ngủ hay thậm chí chết đi”, một người bị tâm thần được bảo vệ không mất tài sản hay địa vị nhưng không được thừa nhận có khả năng để lại di chúc, thực hiện bất kì hoạt động kinh doanh nào hay chịu trách nhiệm cho hành vi phạm pháp. Luật pháp La Mã tuân thủ nguyên lí rằng “một người bệnh tâm thần, như một đứa trẻ không có khả năng hiểu biết, thường trước 7 hay 8 tuổi, không có khả năng có ý định phạm tội và ý hướng gây thương tổn” (Van Ommeren 1961, tr. 6).

Nhà thờ Cơ Đốc giáo La Mã, được thành lập ở châu Âu, dựa vào luật La Mã để trả lời nhiều câu hỏi thực tế liên quan đến bệnh tâm thần. Đồng thuận kết hôn bị ảnh hưởng bởi bệnh tâm thần như thế nào? Người bệnh tâm thần có thể nhận các bí tích Cơ Đốc giáo? Một linh mục bị tâm thần có thể tiếp tục vai trò của mình? Có nên được li dị hay không khi vợ/chồng bị bệnh tâm thần? Làm cách nào xác định có phải một người giả bệnh tâm thần để li hôn?

Các tác giả thế tục cũng gặp phải những câu hỏi khó khăn tương tự. Làm thế nào có thể phát hiện kẻ phạm pháp giả điên để tránh sự trừng phạt? Những quyền nào là của người bệnh tâm thần khi hồi phục (bớt bệnh)? Ai sẽ thực hiện việc giám hộ cá nhân? Hai câu hỏi đặt ra cho bất cứ suy xét lịch sử pháp y tâm thần nào: Làm cách nào xác nhận bất kì một cá nhân nào bị tâm thần, nghĩa là bệnh tâm thần được ghi nhận như thế nào, và ai là người chịu trách nhiệm xác định sự hiện diện của bệnh tâm thần khi nó trở thành một vấn đề? Không có bằng chứng nào cho thấy tồn tại cách giải thích rằng các bác sĩ được sử dụng như những chuyên gia nhằm giải đáp bất kì câu câu hỏi nào ở trên trong thời Trung cổ.

Thành phố Bologna ở Italia có thể là nơi đầu tiên thiết lập hệ thống chuyên gia y tế dùng vào việc điều tra tội phạm (Simili 1973). Mặc dù Bologna có thể có bộ luật đầu tiên hỏi ý kiến bác sĩ chuyên gia [6], tồn tại một hệ thồng thực tế sử dụng các chuyên gia tại nhiều nơi khác nhau khắp châu Âu vào các dịch vụ ngay cả khi không được ghi nhận chính thức trong đạo luật. Tại Đức, thành phố Freiburg thời trung cổ cho thợ cạo/bác sĩ phẫu thuật trách nhiệm thực hiện vai trò pháp lý tại thời điểm mà y khoa hàn lâm vẫn còn xa rời những vấn đề của thế giới thực tế (Volk and Warlo 1973, tr. 101). Trong những nghiên cứu của mình, các tác giả này nhận thấy rằng “khoa học pháp y đã có trước đó nhiều thế kỉ dưới hình thức thực nghiệm tiền khoa học được thúc đẩy bởi những nhu cầu thực tế của tòa án”, nhưng trước khi có sự xuất hiện của Paolo Zacchia [7], chuyên gia y học không được sử dụng bởi tòa án.

Hội đồng xét xử ở Venice thế kỉ XIV dựa vào Bộ luật Corpus Iuris Civilis (hay truyền thống luật pháp La Mã) khi đối diện với vấn đề bào chữa cho hành vi của người bệnh tâm thần. Lại một lần nữa, chúng ta thấy rằng các bác sĩ không giúp đỡ những người xét xử. Mặc dù các bác sĩ được gọi đến để chứng nhận những vấn đề liên quan đến thể chất trên tội phạm, họ không được yêu cầu chứng thực khi bệnh tâm thần là vấn đề. “Không có gì ngạc nhiên. Bệnh tâm thần trong truyền thống là phán quyết của cộng đồng, chứ không phải của một mình y học” (Ruggiero 1982, tr. 111).

Tại Anh, kiểm định bệnh tâm thần yêu cầu bởi luật pháp phát triển và trở thành một phần của truyền thống Thông luật (Common Law). Henry de Bracton là người có ảnh hưởng sớm và có tính mô phạm đối với sự phát triển của những kiểm định này. Nhận được chức vụ đại pháp quan của Tòa án tối cao Anh quốc, và là tác giả của một trong nhứng luận án quan trọng trong luật pháp Anh quốc, Về Luật pháp và Phong tục Anh quốc (On the Laws and Customs of England, 1256) [8], Bracton được biết đến với “kiểm định bản năng hoang dã”. Người ta cho rằng kiểm định pháp lý này của bệnh tâm thần cần thiết để người bệnh tránh trách nhiệm đối với hành vi phạm tội, một kiểu giận dữ điên cuồng hoặc mất ý chí phải là đặc trưng của người bệnh hay hành động (của người bệnh tâm thần); tuy nhiên Platt và Diamond (1965) chứng minh rằng Bracton sử dụng khái niệm bản năng hoang dã không có bất kì ý định nào so sánh người bệnh tâm thần với các loài thú hoang dã mà là đưa ra quan điểm rằng người bệnh tâm thần, giống như thú vật, không có khả năng hình thành ý định cần thiết thể phạm tội, cũng như trẻ em không có khả năng hình thành ý định này. Khi xác định bệnh tâm thần của bị cáo là một vấn đề trong quá trình tố tụng ở Anh, vấn đề được đưa lên phán quyết của nhà vua. Lệnh xá miễn của hoàng gia có thể được xin để miễn người bệnh tâm thần khỏi chịu trách nhiệm, một tiến trình cũng được dùng để tha cho những người giết người do tai nạn hay do tự vệ (Walker 1968, quyển. 1, tr. 24).

Tại Anh, đạo luật Đặc quyền Hoàng tộc (Praerogativa Regis, tiếng Latin) [9] mô tả sự khác biệt quan trọng giữa những người được gọi là “khờ tự nhiên” (natural fool), một tình trạng bất thường bẩm sinh và những người “không có năng lực kiểm soát lí trí” (non compos mentis, tiếng Latin) hay người có những triệu chứng bệnh xuất hiện sau sinh. Tình trạng “không có năng lực kiểm soát lí trí” bao gồm nhiều bệnh lí tâm thần và không giống với “khờ tự nhiên”, là chịu trách nhiệm khi phục hồi tạm thời hay thậm chí vĩnh viễn [10] (Neugebauer 1978, tr. 159).

Một cá nhân thuộc vào loại này hay loại kia (khờ tự nhiên hay không có năng lực kiểm soát lí trí) được quyết định như thế nào và do ai? Quan tòa biết những thẩm tra được thực hiện nhằm tra hỏi các cá nhân có thể rơi vào điều khoản của đạo luật. Tòa Công lý (The Court of Chancery, xử theo lẽ công bằng, không phụ thuộc vào Thông luật) trao quyền cho cảnh sát trưởng và các công sở khác điều tra không những tình trạng tâm thần các cá nhân nghi vấn mà còn những sở hữu và tài sản mà họ nắm giữ. Giống như phần còn lại của châu Âu trung cổ, các bác sĩ không liên quan đến phán quyết của tòa; kết luận bệnh tâm thần mất năng lực hay bẩm sinh ở Anh (cũng như ở Venice) thời trung cổ là một “phán quyết cộng đồng” (Neugebauer 1978).

Một khía cạnh đen tối của “phán quyết cộng đồng” này xảy ra dưới thời trung cổ là việc truy hại những người bị nghi là phù thủy (witch – hunting). Từ thế kỉ XV đến XVII, hàng ngàn người bị xử tội vì hành nghề phù thủy. Tác phẩm Malleus Maleficarum (hay Witches’ Hammer) được viết bởi hai tu sĩ dòng Đa Minh, Sprenger và Kraemer, đưa ra quan điểm về sự tồn tại của các phù thủy, cách có thể phát hiện ra họ và quá trình hợp thức xét xử họ. Sự xuất hiện đáng chú ý của một bác sĩ như một chuyên gia tại tòa án Anh quốc được thực hiện bởi Sir Thomas Browne (Finch 1950). Browne, tác giả của Religio Medici, quyển sách của sự suy tư tôn giáo, tham gia xử án hai phụ nữ sử dụng ma thuật vào năm 1664 tại  Bury St. Edmunds, chứng thực ma quỷ có thể hoạt động trong quá trình điên loạn của người phụ nữ; vì vậy, Browne có mặt để ủng hộ cho sự tồn tại đồng thời và độc lập của ma thuật và sự điên loạn [11].

Bác sĩ Johann Weyer (1515–1588), có thể là người đầu tiên dành phần lớn mối quan tâm chuyên môn đến các bệnh tâm thần, được được xem là tiếng nói của lí trí đi ngược lại tinh thần thời đại (Alexander và Selesnick 1966; Diamond 1961; Zilboorg 1967; Mora 1991). Như một sự lựa chọn, xử án phù thủy được mô tả như một vài nguyên mẫu đầu tiên của sự phối hợp luật pháp/tâm thần học. Nhà tâm thần học Thomas Szasz cho rằng tạo ra nghề nghiệp được thừa nhận rộng rãi mô tả tâm thần học như một phương thức hiện đại của việc xử án những người bị nghi là phù thủy. Mặc dù Szasz tin vào Weyer với nhận định rằng ma thuật được dùng quá nhiều để chẩn đoán những gì đúng ra phải là bệnh điên loạn, Szasz phê phán niềm tin vào sự tồn tại của phù thủy của Weyer (Szasz 1970). Đối với Szasz, tuy nhiên, lí do của lòng nhân đạo của họ có thể là, các bác sĩ tham gia vào trình tự pháp luật giúp đem y học vào phục vụ  pháp luật và thúc đẩy sự kiểm soát xã hội (Szasz 1974).

Updated: 8 Tháng Mười Một, 2016 — 3:51 chiều

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Frontier Theme